Tiêu chuẩn kỹ thuật dầu nhớt động cơ diesel

Động cơ diesel và động cơ xăng có sự tương đồng về cơ cấu cơ khí nhưng có kết cấu khác nhau cũng như nguyên tắc hoạt động khác nhau. Tuy nhiên về yếu tố kỹ thuật bôi trơn cho cả hai loại động cơ này là như nhau.

Thông thường, theo API (Viện dầu mỏ Hoa kỳ- American Petroleum Institute) khuyến cáo, mỗi loại dầu nhớt động cơ có thể sử dụng cho động cơ xăng và cả diesel, nhưng sẽ ưu tiên cho xăng hay diesel.

Trong hệ thống phân loại chất lượng API, Động cơ xăng được ký hiệu ”S”  (S-Service, dầu thay tại trạm bảo dưỡng, hay Spark, kiểu đánh lửa trong động cơ xăng), động cơ Diesel được ký hiệu “C” (C-commercial, dòng vận tải thương mại, hay compression, kiểu nén nổ của động cơ diesel)

“C” Năm ban hành Khuyến cáo cho động cơ Diesel
CJ-4 2006 Được giới thiệu năm 2006 cho động cơ  diesel hút khí tự nhiên và tăng áp, chế độ làm việc nặng, thiết kế để đáp ứng tiêu chuẩn khí thải năm 2007.
Dầu CJ-4 phù hợp cho các động cơ sử dụng nhiên liệu Diesel đến 500ppm (0.05%). Tuy nhiên, hàm lượng lưu huỳnh > 15ppm có thể ảnh hưởng đến chất lượng khí thải và rút ngắn chu kỳ thay dầu.
CI-4 Plus 2004 Được ban hành cùng với CI-4. CI4-Plus chứng nhận dầu nhớt đạt tiêu chuẩn cao hơn trong việc bảo vệ động cơ chống lại việc tăng độ nhớt do cặn muội than và giảm độ nhớt do mạt kim loại trong động cơ.
CI-4 2002 Dùng cho động cơ diesel hút khí tự nhiên và tăng áp, chế độ làm việc nặng, dùng nhiên liệu có lưu huỳnh đến 500ppm (0,05% khối lượng),thiết kê để đáp ứng tiêu chuẩn khí thải năm 2004.
Tính năng bảo vệ động cơ được tối ưu nhờ sự tăng cường kiểm soát ăn mòn và mài mòn, tăng độ ổn định độ nhớt theo nhiệt độ, khả năng hấp thụ muội than, chống cáu cặn cho pistion, chống oxi, chống tạo bọt và giảm độ nhớt do ảnh hưởng bởi mạt sắt.
CI-4 có hiệu suất cao hơn và có thể dùng thay cho các loại dầu động cơ cấp API CH-4, CG-4 và CF-4
CH-4 1998 Dùng cho động cơ diesel hút khí tự nhiên và tăng áp, chế độ làm việc nặng  dùng nhiên liệu có lưu huỳnh đến 5000ppm (0,5% khối lượng), thiết kế để đáp ứng tiêu chuẩn khí thải năm 1998
CH-4 có hiệu suất cao hơn và có thể dùng thay cho các loại dầu động cơ cấp API CF-4 và CG-4.
CG-4 1994 Dùng cho động cơ diesel hút khí tự nhiên và tăng áp, chế độ làm việc nặng  dùng nhiên liệu có lưu huỳnh đến 5000ppm (0,5% khối lượng).
Dầu CG-4 được thiết kế để bảo về đống cơ chống lại hiện tượng tạo cặn piston ở nhiệt độ cao, ăn mòn, mài mòn, tạo bọt, chống oxi hóa và hiện tượng tích tụ muội than.
CH-4 có hiệu suất cao hơn và có thể dùng thay cho các loại dầu động cơ cấp API CD, CE và CF-4.
Đáp ứng tiêu chuẩn khí thải năm 1994.
CF-2 1994  Dùng cho động cơ diesel 2 thì có chế độ làm việc nặng.Có thể dùng thay cho cấp dầu CD-II
CF 1994  Dùng cho động cơ diesel công trường, phun dầu gián tiếp và các động cơ  diesel khác dùng nhiên liệu có lưu huỳnh cao (> 0,5% khối lượng). Bảo vệ hiệu quả chống đóng cặn pistion, mài mòn và ăn mòn các chi tiết có chứa đồng. Có thể dùng  thay cho cấp dầu CD
CF-4 1994 Dùng cho động cơ diesel 4 thì hút khí tự nhiên và tăng áp. Dầu API CF-4 có các tiêu chuẩn chất lượng cao hơn API CE, giảm tiêu hao dầu và giảm tạo cặn piston, được khuyến cáo sử dụng thay thế cho cấp dầu API CE. Cấp dầu này cũng có thể sự dụng cho động cơ xăng có cấp APO “S” thích hợp.
CE 1983  Dùng cho động cơ diesel hút khí tự nhiên và tăng áp.Có thể dùng thay cho cấp dầu CC và CD
CD-II 1955  Dùng cho động cơ diesel 2 thì
CD 1955  Dùng cho động cơ diesel hút khí tự nhiên và tăng áp
CC 1951  Không thích hợp cho các động cơ sản xuất sau 1990
CB 1949  Không thích hợp cho các động cơ sản xuất sau 1961
CA 1940  Không thích hợp cho các động cơ sản xuất sau 1959

Thành phần dầu nhớt bôi trơn

90% là dầu gốc

Thành phần dầu nhớt bao gồm hai hợp phần chính là dầu gốc và chất phụ gia. Dầu gốc là hợp phần chủ yếu của dầu nhớt bôi trơn. Chất phụ gia tuy chỉ chiếm 10 – 30%

thanh phan dau nhot

Khác biệt giữa dầu nhớt tổng hợp và dầu nhớt gốc khoáng

Một sản phẩm dầu nhớt được gọi là ‘khoáng’ khi dựa trên tinh luyện dầu mỏ. Các loại dầu nhớt tổng hợp có nguồn gốc từ các phản ứng hóa học giữa các thành phần khác nhau.

Quá trình sản xuất ra dầu nhớt tổng hợp phức tạp hơn và vì thế tốn kém hơn so với quá trình sản xuất dầu khoáng. Tuy nhiên, sản phẩm tổng hợp có các đặc tính vượt trội về tính năng chống oxy hóa, cho phép sử dụng trong những điều kiện nhiệt độ khắc nghiệt và/hoặc kéo dài thời gian thay dầu.

Dầu nhớt bán tổng hợp được điều chế từ sự pha trộn chọn lọc giữa dầu gốc khoáng và gốc tổng hợp. Quá trình này, với mức chi phí hợp lý, sẽ cho ra sản phẩm với tính năng hơn hẳn dầu khoáng vì loại dầu này giữ lại các đặc tính nổi trội của gốc tổng hợp.

dau tong hop va dau khoang

Racing_300x400

Scooter 10W30_300x400

Nhớt TOTAL cho xe tay ga có thành phần gồm dầu gốc khoáng và phụ gia, nhớt TOTAL RACING có thành phần gồm dầu gốc tổng hợp và phụ gia.

Vai trò của phụ gia

– Chất phụ gia là những chất hữu cơ, vô cơ, cơ kim được thêm vào để nâng các tính chất riêng biệt của dầu bôi trơn. Hàm lượng phụ gia thông thường ở vào khoảng 0.01-5%, trong một vài trường hợp thì có thể từ vài phần triệu đến trên 10%

– Chức năng của chất phụ gia gồm:

  • Làm tăng độ bền oxi hóa,
  • Ngăn chặn hoạt tính xúc tác của kim loại trong quá trình oxi hóa và ăn mòn
  • Chống ăn mòn/gỉ
  • Chống sự tạo cặn bám và cặn bùn.
  • Giữ các tạp chất bẩn ở dạng huyền phù (lơ lửng trong dầu, tránh tạo cặn trên bề mặt chi tiết thiết bị)
  • Tăng chỉ số độ nhớt
  • Giảm nhiệt độ đông đặc
  • Làm dầu có thể trộn lẫn với nước
  • Chống tạo bọt
  • Ngăn chặn sự phát triển của vi sinh vật
  • Làm cho dầu có khả năng bám dính tốt
  • Tăng khả năng làm kín
  • Làm tăng ma sát
  • Làm giảm và ngăn chặn sự mài mòn
  • Chống kẹt xước các bề mặt kim loại