Nhớt tổng hợp (Full Synthetic hoặc Synthetic Technology) là nhớt có thành phần dầu gốc được API phân loại vào nhóm III, IV hoặc V.

Nhớt tổng hợp có độ tinh khiết và các thuộc tính hoạt động tốt hơn, và do đó có giá thành cao hơn nhớt gốc khoáng (nhóm I, II).

Dầu gốc dùng để pha chế dầu nhớt thực chất là các hydrocarbon có mạch phân tử cao (từ 18 – 20 carbon; so với 7 – 10 carbon của xăng và 12 – 20 carbon của diesel).

Dầu gốc ban đầu chủ yếu dầu gốc khoáng, là sản phẩm của quá trình xử lý và tinh chế dầu thô từ nhà máy lọc dầu.

Thuật ngữ dầu tổng hợp (synthetic oil) ban đầu dùng để chỉ sản phẩm dầu gốc được tổng hợp bằng phương pháp nhân tạo từ các đơn phân tử C2 thông qua qui trình tổng hợp Fisher Tropsch. Qui trình này được phát triển và ứng dụng đầu tiên bởi người Đức vào thời kỳ thế chiến thứ hai nhằm giải quyết tình trạng thiếu hụt nguồn nhiên liệu dầu mỏ. Kỹ thuật tổng hợp hiện đại có thể kiểm soát hoàn toàn cấu trúc phân tử của dầu, sản phẩm cuối cùng là một loại dầu gốc có độ đồng nhất cấu trúc phân tử cực cao và không có tạp chất. Dầu tổng hợp có các đặc tính ưu việt và độ bền hơn gấp nhiều lần so với dầu gốc khoáng.

Tuy nhiên, thực tế phân loại dầu gốc hiện nay không đơn giản như vậy. Tại Mỹ, do một phán quyết có phần bất hợp lý của toàn án mà dầu gốc khoáng có thể dán nhãn tổng hợp (synthetic) một cách hợp pháp. Do đó, việc căn cứ và nhãn mác để xác định đâu là dầu tổng hợp là hoàn toàn vô nghĩa.

Nhiều năm trước, Castrol ở Đức khởi kiện khi BP dán nhãn SYNTHETIC cho sản phẩm pha chế từ dầu gốc nhóm III (dầu mỏ tinh chế cao bằng công nghệ hydro cracking). Castrol thắng kiện, do đó, ở Đức chỉ có dầu nhớt pha chế từ dầu tổng hợp mới được gắn nhãn SYNTHETIC, không bao gồm dầu nhóm III hydro-cracking

Vài năm sau, khi dầu hydro cracking trở nên phổ biến trên thị trường, đến lượt Mobil kiện Castrol về việc sử dụng nhãn SYNTHETIC cho sản phẩm pha chế từ dầu hydro cracking. Khác với Đức, toà án Mỹ xử Castrol thắng kiện và vô hình trung “mở cửa” cho các hãng dán nhãn SYNTHETIC cho dầu hydro-cracking trên toàn thế giới.

Ngày nay, BP mua lại Castrol, Esso (Exxon) mua Mobil & Sikollene thuộc sở hữu tập đoàn Fuchs của Đức, và dầu hydro-cracking (dầu gốc khoáng tinh chế cao) được gọi một cách hợp pháp là dầu “SYNTHETIC” ngoại trừ ở Đức.

Khi SAE ban hành tiêu chuẩn dầu động cơ khoảng 20 năm trước, các định nghĩa “dầu tổng hợp (Synthetic lubricant)” đã bị xoá bỏ khỏi tiêu chuẩn. API thì chưa bao giờ đưa ra định nghĩa về “Synthetic”. Cục quản lý thương mại (Council of Better Bussiness Bureau) thì qui định “Synthetic” là một thuật ngữ marketing và việc định nghĩa thuật ngữ này phụ thuộc vào các marketer.

Đối với người tiêu dùng, chúng ta nên lưu ý loại dầu gốc sử dụng trong sản phẩm là dầu khoáng hydro-cracking hay PAO, ester,… và quan trọng không kém là hệ phụ gia được sử dụng. Việc dán nhãn “Synthetic” như đã phân tích ở trên là không có ý nghĩa gì hết.

PHÂN LOẠI DẦU GỐC THEO API (AMERICAN PETROLEUM INSTITUDE) 

Viện Dầu khí Mỹ API phân loại dầu gốc thành năm loại như sau: (API 1509, Phụ lục E)

Nhóm I

Dầu gốc nhóm I có độ bão hoà < 90% và hàm lượng lưu huỳnh > 0.3%, chỉ số độ nhớt trong khoảng 80 đến 120. Dầu gốc Nhóm I thu được qua quá trình trích tách dung môi dung môi (solvent-refined) – quá trình xử lý đơn giản nhất. Đây là lý do dầu gốc Nhóm I là loại dầu gốc giá rẻ nhất trên thị trường.

Nhóm II

Dầu gốc nhóm II có độ bão hoà > 90% và hàm lượng lưu huỳnh < 0.3%, chỉ số độ nhớt trong khoảng 80 đến 120 Nhóm III

Dầu gốc nhóm III có độ bão hoà > 90% và hàm lượng lưu huỳnh < 0.3%, chỉ số độ nhớt > 120. Đây là dầu mỏ được tinh chế và xử lý bằng công nghệ hydro cracking.

Nhóm IV

Dầu gốc nhóm IV là các hydrocarbon đa vòng (polyalphaolefins – PAO)

Nhóm V

Nhóm V bao gồm các loại dầu gốc không nằm trong các nhóm I, II, III, IV